Tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động của các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán

Tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động của các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán

02/09/2021Tài chính

Thông qua dữ liệu được thu thập từ 27 ngân hàng thương mại niêm yết trên sàn chứng khoán và với 371 quan sát (dữ liệu bảng không cân bằng) được trích từ website vietstock.vn, bài viết phân tích tác động của dịch COVID-19 đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong bối cảnh dịch COVID-19 sụt giảm là do quy mô tín dụng tác động âm và sự sụt giảm hệ số beta của hiệu quả tín dụng trong đại dịch COVID-19 thấp hơn hệ số beta bình quân của toàn bộ giai đoạn hoạt động.
Giới thiệu
 
Từ năm 2020 đến nay, kinh tế thế giới, bao gồm Việt Nam, chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch COVID-19. Việc thực hiện giãn cách xã hội nhằm phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 đã phần nào ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) và làm giảm hiệu hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
 
 
Thông qua dữ liệu được thu thập được từ 27 ngân hàng thương mại niêm yết trên sàn chứng khoán và với 371 quan sát (dữ liệu bảng không cân bằng) được trích từ website vietstock.vn, bài viết phân tích tác động của dịch COVID-19 đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
 
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong bối cảnh dịch COVID-19 sụt giảm là do quy mô tín dụng tác động âm và sự sụt giảm hệ số beta của hiệu quả tín dụng trong đại dịch COVID-19 thấp hơn hệ số beta bình quân của toàn bộ giai đoạn hoạt động.
 
Mô hình nghiên cứu
 
Đại dịch COVID-19 là biến cố mới, chưa có cơ sở lý luận mà chỉ có một số mô hình phân tích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong bối cảnh dịch COVID-19, như Yusuf và Ichsan (2021) phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Indonesia dựa vào các yếu tố rủi ro của các khoản vay tín dụng và khả năng thanh toán của khách hàng.
Hay như nghiên cứu của Disemadi và Shaleh (2021) phân tích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng từ quản lý tín dụng.
 
Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu đề xuất gồm: (i) Quy mô tín dụng phản ánh quy mô hoạt động đầu ra của các ngân hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh; (ii) Hiệu quả tín dụng phản ánh hiệu quả đầu ra của các ngân hàng thương mại (NHTM).
 
Công thức cụ thể như sau:
 
BPi,t=α+β1scalei,t+β2 aCrPi,t++β3 cCrPi,τ+γi,k,t ΣXi,k,t +θj,t ΣMj,t +εi,t (2)
 
Trong đó: BPi,t là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng i tại thời điểm t; scalei,t là quy mô cho vay của ngân hàng i tại thời điểm t; aCrPi,t là hiệu quả tín dụng của ngân hàng i tại thời điểm t; cCrPi,τ là hiệu quả tín dụng của ngân hàng i tại thời điểm τ, thời điểm xuất hiện đại dịch Covid-19, ΣMj,t là j biến số vĩ mô xem xét nhu cầu vay đầu tư. Giả thuyết đặt ra trong nghiên cứu:, ΣXi,k,t là k biến số quản lý của ngân hàng i tại thời điểm t.
 
Mối quan hệ giữa quy mô tín dụng và hiệu quả hoạt động kinh doanh
Quy mô tín dụng phản ánh quy mô hoạt động đầu ra của các ngân hàng, khi ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay tín dụng cho đến mức tối ưu làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh.
 
Tuy nhiên, việc mở rộng quá mức dẫn đến áp lực chi phí từ lãi và chi phí hoạt động có khả năng làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động của quy mô tín dụng ngược chiều với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Giả thiết đặt ra H1: β1< 0, quy mô tín dụng tác động nghịch biến đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
 
Mối quan hệ giữa hiệu quả tín dụng và hiệu quả hoạt động kinh doanh
 
Hiệu quả tín dụng phản ánh hiệu quả đầu ra của các ngân hàng, khi ngân hàng thu nhập từ lãi vay tăng so với chi phí từ lãi vay, dẫn đến hiệu quả tín dụng tác động đồng biến đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Song, hiệu quả tín dụng trong bối cảnh dịch COVID-19 có tỷ lệ tác động nhỏ hơn so với tỷ lệ tác động của hiệu quả tín dụng trong điều kiện bình thường.
 
Giả thiết đặt ra H2a: β2>0, hiệu quả tín dụng tác động đồng biến đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó: Giả thiết đặt ra H2b: β30, hiệu quả tín dụng tác động đồng biến đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó được chứng minh trong hệ số hồi quy có ý nghĩa và lớn hơn 0.
 
- Giả thiết đặt ra H2b: β3
T.T
tapchitaichinh

Bài viết liên quan

Top